Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

LỜI MẸ DẶN, TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT

Lời mẹ dặn là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ,  không có gì là “biểu tượng hai mặt” cả , nhưng lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của  tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một “kiệt tác” thơ Việt thế kỷ XX.

                                                                               Ngô Minh

Phung Quan             Bài thơ “ Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956 ) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố”, Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã  biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết.

             Nhưng Phùng Quán thì không ! Anh vẫn sống và sáng tác hay hơn, quyết liệt hơn. Sau khi báo Nhân Văn, Giai phẩm bị đình bản, năm 1957, Nhà nước cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tuần báo Văn do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ bút với mục đích chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ lúc ấy.  Phùng Quán đã xuất hiện trên báo Văn số 21, ra ngày 27-9-1957 với bài thơ Lời mẹ dặn gây xôn xao dư luận. Lập tức bài thơ được nhiều người chép, thuộc như là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn cầm bút của văn nghệ sĩ .

               Lời mẹ dặn là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ,  không có gì là “biểu tượng hai mặt” cả , nhưng lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của  tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một “kiệt tác” thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ, nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý : “Tôi mồ côi cha  năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn /

                                         Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn

                                         Ôm tôi hôn lên mái tóc…

                                         Con ơi… trước khi nhắm mắt

                                         Cha con dặn con suốt đời

                                         Phải làm một người chân thật

             Đến đây thì  tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì ?”- Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm, nhưng lại là một câu hỏi lớn, rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời  đen bạc . “Chân thật”, bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó, mai một, biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen, nịnh hót, nói dối , lừa lọc để tồn tại hoặc để được vinh thân phì gia. Thậm chí có người đã không chân thật rồi, lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “ Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn, từ nhỏ, người lớn hỏi Phùng Quán :” Bé ơi, bé yêu ai nhất ? – Bé yêu những người chân thật. Từ chỗ phải làm người chân thât đến  thái dộ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội rộng lớn.

                                           Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

                                           Con ơi một người chân thật

                                           Thấy vui muốn cười cứ cười

                                           Thấy buồn muốn khóc là khóc

           Câu giải thích bước đầu  của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười- thấy buồn muốn khóc là khóc . Nhưng đó là một chân lý sâu sau, một phương ngôn sống. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế, đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người  ngạc nhiên tán thưởng, bởi vì đã từ lâu con người luôn sống ngược lại với ý  nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để mong làm vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá !

                Sau cười khóc hồn nhiên là đến chuyện yêu ghét, một cấp độ cao hơn của thái độ và nhận thức, ứng xử của con người trong cộng đồng:

                                                 Yêu ai cứ bảo là yêu

                                                 Ghét ai cứ bảo là ghét.

            Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét…”. Hai câu đó đã thành biểu tượng tinh thần, ý chí của anh. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử, của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “ cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay, nói không cần đắn đo, suy tính.

              Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “ Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét” được, mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi, dối trá, biến mình thành tôi tớ , “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực có tiền bạc. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu, ghét là nói ghét hay không ! Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn, có thể gọi là thái độ  bất khuất , không chịu luồn cúi  của tác giả trước những thế lực cường quyền:

                                                  Yêu ai cứ bảo là yêu

                                                  Ghét ai cứ bảo là ghét

                                                  Dù ai ngon ngọt nuông chiều

                                                  Cũng không nói yêu thành ghét

                                                  Dù ai cầm dao doạ giết

                                                  Cũng không nói ghét thành yêu

               Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đã thành chân lý vĩnh  hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam  từ  50 năm qua , đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét- nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội, tâm địa xấu xa, hèn yếu. Chỉ cần  kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều”, hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết”  là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh liệt nêu tấm gương trung nghĩa, không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Cao Bá Quát, Lê Lợi, Trương Định, Vua Hàm Nghi.v.v..cùng hàng ngàn chiến sĩ kiên trung trong các nhà tù hay trên  các pháp trường của thực dân đế quốc trong hai cuộc kháng chiến…Chỉ mấy câu thơ của Lý Thương Kiệt  trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi,  cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam : Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư . Ngược lại, nhiều việc nói theo người cầm quyền, làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra nhiều thảm hoạ  đau thương cho nhân dân, đất nước. Từ chỗ sợ sệt, người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra  không ít “trí thức hèn”, “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy chỉ cần  chìa ra trước mặt một ít bổng lộc, một tí chức tước quèn thôi đã không  dám mở miệng nói chính kiến của mình, dù biết cấp trên sai, vẫn ngoan ngoãn vâng lời. Cứ như thế ở xứ ta  đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn” ”gọi : dạ, bảo: vâng”, không còn tính độc lập suy nghĩ của người quân tử.

                Từ chuyện “chân thật”, “khóc cười”, “yêu ghét”, nhà thơ đã đưa người đọc đến bản lĩnh người cầm bút. Đây là mục tiêu cuối cùng mà bài thơ muốn đạt tới:

                                                   Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

                                                   Đứa bé mồ côi thành nhà văn

                                                   Nhưng lời mẹ dăn thuở lên năm

                                                   Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

                                                    Người làm xiếc đi trên dây rất khó

                                                    Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

                                                    Đi trọn đời trên con đường chân thật

              Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều : Vì làm nhà văn chân thật là rất khó, nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền, nhiều nhà văn đã  cam tâm “bẻ cong ngòi bút”, phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu, đả kích cái tốt. Có nhà thơ đã vẽ rất rõ chân dung méo mó, khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời, vì lý do này lý do khác,  đã không đi trọn đời trên con đường chân thật!

                Còn Phùng Quán thì  tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối:

                                               Tôi muốn làm nhà thơ chân thật

                                               Chân thật trọn đời

                                                Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi

                                                Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

                                                Bút giấy tôi ai cướp giật đi

                                               Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

              Bài thơ lớp lang, đẩy triết lý “sống thật, yêu thật, nói thật, viết thật”, thật đến tận cùng. Đoạn kết bài thơ là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn thơ. Mới 25 tuổi đời mà viết như thế là bản lĩnh, tiết tháo lắm lắm. Điều đáng khâm phục hơn là Phùng Quán  suốt cuộc đời mình cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt” đã sống như thế, viết như thế. Năm 1984, gần 30 năm, khi về thăm quê nội Huế, trong tiểu thuyết tình 13 chương bằng thơ “Trăng Hoàng Cung” , Phùng Quán một lần nữa nhắc lại tuyên ngôn này trong bài thơ “Tôi thích viết trên giấy có kẻ dòng” :

                                                     Là nhà văn

                                                    Tôi yêu tha thiết

                                                     Sự ngay thẳng tột cùng

                                                    Ngày thẳng thuỷ chung

                                                    Của mỗi dòng chữ viết

             50 năm qua, bài thơ “Lời mẹ dặn” đã trở thành tài sản tâm hồn của bao thế hệ thanh niên Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Hồi tôi  sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “ Nhớ Phùng Quán”( NXB Trẻ, 2002), nhạc sỹ Phạm Duy ở nước ngoài đã gửi bản nhạc phổ bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán in trong tập “Tập nhạc Phạm Duy” ( NXB Hồng Lĩnh USA, 1994) về cho nhà văn Nguyễn Đắc Xuân , nhờ chuyển cho chị Vũ Thị Bội Trâm với lời đề tặng “ Kinh tặng gia đình Phùng Quán”. Tôi đã coppy một bản để in vào sách,  nhưng bài hát này không nằm trong quy định các bài hát của Phạm Duy được hát của Bộ Văn hoá thông tin lúc đó, nên thôi. Mới đây, Trung tâm Văn hoá doanh nhân và  Nhà xuất bản giáo dục đã tổ chức bình chọn 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Tuy việc bình chọn thiếu chuẩn mực, có nhiều ý kiến không đồng tình với cách chọn và nhiều  tác giả thơ,  nhiều bài thơ được chọn không xứng đáng là thơ hay, chứ chưa nói “ hay nhất thế kỷ”. Nhà thơ Bằng Việt cho rằng chỉ 50% bài thơ là hay, còn  nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì nói” đó là tập thơ” 30 bài thơ hay và 70 bài thơ dở của thế kỷ XX” . Nhưng việc chọn bài thơ  Lời mẹ dặn của Phùng Quán là một trong những “bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX”, theo tôi là hoàn toàn chính xác.

              Thế nhưng, khi bài thơ ra đời, đã có nhiều nhà phê bình cho là bài thơ “mang biểu tượng hai mặt”, với ý đồ xấu. Ô hay, văn chương càng đa nghĩa càng hay, sao chỉ  mới “hai mặt” đã  kêu.  Trong bài “Vạch thêm những hoạt động đen tối của một  số kẻ cầm đầu trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm” của Từ Bích Hoàng in trên Văn nghệ Quân dội số 5 ( 5/1958) có đoạn :” Phùng Quán làm bài thơ Lời mẹ dặn , Trần Dần, Văn Cao kéo Quán đi khao chả cá. Văn Cao khen :” Phùng Quán viết khá, không đánh vào hiện tượng mà đả thẳng vào bản chất. Những sáng tác kiểu hai mặt như thế nhan nhản ra đời…”. Có tờ báo lớn còn in hẳn bài thơ “ Lời mẹ dăn- Thật hay không ?” ký tên Trúc Chi  dài 112 câu, chửi bới , nhiếc móc thậm tệ tác giả Lời mẹ dặn . Xin trích mấy đoạn  ngắn:

                                       …Nó ghét chỗ thầy hiền bạn tốt

                                         Nó yêu nơi gái điếm cao bồi

                                         Ghét những người đáng yêu của thiên hạ

                                         Yêu những người đáng ghét của muôn người,

                                         Quen học thói gà đồng mèo mả

                                         Hoá ra thân chó mái chim mồi

                                         ….

                                         Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã

                                         Chắc trên đầu có cột thu lôi

                                         Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt

                                         Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi

                                         Nghề bút giấy đã làm không trọn

                                         Dùng dao khắc đá cũng  xoàng thôi !…

          Tác giả  bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không ?” dùng lời lẽ côn đồ, hàng tôm hàng cá,  nhưng lại không hiểu những ý nghĩa, triết lý nhân văn cao sâu của những ý thơ Phùng Quán. Phùng Quán viết rằng yêu ai, ghét ai phải nói cho thật lòng, sống cho thật lòng. Nhưng  Trúc Chi lại thuyết  phải nên yêu ai, nên ghét ai. Hay những câu thơ  Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá là hình ảnh biểu tượng, nghĩa bóng , Trúc Chi lại hiểu theo nghĩa tục, nên lên giọng mỉa mai. Vì thế bài thơ Lời mẹ dặn, cùng với bài Chống tham ô lãng phí  là hai bài thơ làm cho tác giả của nó trở thành một tên trong bộ “bộ tứ” nhân văn giai phẩm, bị “đánh” tơi bời, phải “30 năm cá chịu, văn chui, rượu nợ”

               Sinh thời, nhà văn Phùng Quán kể với tôi rằng, khi đọc bài thơ Lời mẹ dăn- Thật hay không ? trên đăng trên một báo lớn, anh  vừa buồn cười và tức giận. Anh quyết tâm tìm cho ra  Trúc Chi  là ai để “đối thoại trực tiếp” cho ra lẽ. Vì  không thể hiểu  nội dung bài thơ Lời mẹ dặn một cách thô thiển như thế được. Ở Hải Phòng có nhà văn Trúc Chi quê Phú Yên , nhỏ hơn Phùng Quán ba tuổi , nhà văn miền Nam tập kết.  Trúc Chi rất thân với Phùng Quán. Nhiều anh em bạn bè cho rằng, có thể Trúc Chi đã “phản bạn” để “xưng công” ( !?). Phùng Quán buồn lắm. Anh quyết định cầm tờ báo có in bài thơ “Lời mẹ dăn- Thật hay không?” nhảy tàu hoả xuống Hải Phòng tìm đến nhà Trúc Chi. Gặp nhau, nhà văn Trúc Chi rất mừng rỡ, nhưng khi Phùng Quán cho xem tờ báo thì Trúc Chi ngớ ra :” Lời mẹ dặn là bài thơ rất hay, mình thuộc lòng. Mình là người đàng hoàng, làm sao lại có thể viết bài thơ chửi bới tệ hại đối với cậu như thế được !”.

              Mãi đến năm 1989, có người gửi cho Phùng Quán tập thơ “Một đôi vần” của ông quan lớn Hoàng Văn Hoan, do Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Việt Bắc ấn hành, trong đó có bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không?”. Nhà văn Xuân Đài, bạn chí thân của  anh Phùng Quán trong suốt 30 năm bị biếm của đời anh, hiện đang sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận việc này là chính xác. Nhưng khi đó thì Hoàng Văn Hoan đã  “tị nạn chính trị” tại Trung Quốc ( rồi sau này chết chôn ở bên đó).

                Trích đoạn bài thơ Lời Mẹ dặn đã được khắc lên phiến đá dày dựng trước mộ nhà thơ Phùng Quán cuối năm 2010, như là sự tiên tri của câu thơ : Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. Mỗi bài thơ đều có số phận của nó. Lời mẹ dặn, là  một tuyệt tác thơ của dân tộc, dù bị chửi bới, vùi dập, nó vẫn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người yêu thơ. Yêu ai cứ bảo là yêu . Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao doạ giết… Cũng không nói ghét thành yêu…

Ngô Minh 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét